I. Ý NGHĨA CỦA VIỆC SỬA ĐỔI CHÍNH SÁCH
Hiện trạng của chế độ tu nghiệp, thực tập sinh kỹ năng tại Nhật Bản
Chế độ tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng được thành lập sau khi Chính phủ Nhật Bản tiến hành thay đổi Luật nhập cảnh và đặt ra tư cách lưu trú “Tu nghiệp” vào năm 1980. Sau đó vào năm 1993 chế độ thực tập kỹ năng ra đời, đến năm 1997 luật cho phép thời gian lưu trú của thực tập kỹ năng là hai năm (cộng cả thời gian tu nghiệp thì thời gian được phép lưu trú tối đa là ba năm) và đây chính là chế độ tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng hiện nay.
Chế độ được lập ra với mục đích giúp chuyển giao công nghệ (bao gồm kỹ thuật, kỹ năng, trí thức) và đào tạo nguồn nhân lực giúp các nước đang phát triển. Năm 2006 có đến trên 90.000 người mới nhập cảnh với tư cách thực tập sinh và con số mỗi năm ngày càng tăng lên.
Cho đến tháng 2 năm 1999 Nhật Bản vẫn áp dụng chính sách liên quan đến việc nhập cảnh và lưu trú của tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng cũ (dưới đây gọi là chính sách cũ). Dựa theo phương châm cũ này Chính phủ Nhật Bản tiến hành chỉ đạo các công ty tiếp nhận, kiểm tra đánh giá mức độ đúng đắn của chế độ tu nghiệp, thực tập kỹ năng. Tuy nhiên sau 8 năm, tình trạng tu nghiệp, thực tập kỹ năng có nhiều biến đổi lớn, vì thế cần phải tiến hành thay đổi chế độ này. Năm 1999 số người mới nhập cảnh với tư cách tu nghiệp sinh là 47.985 người, số người chuyển từ giai đoạn tu nghiệp sinh sang thực tập là 11.032 người. Đến năm 2006, con số này tăng lên đến 92.846 người và 41.000 người. Thêm vào đó trong thời gian này số ngành nghề tăng từ 35 loại (tháng 4 năm 1999) đến nay là 62 loại (tháng 4 năm 2005), và số công ty sử dụng chế độ tu nghiệp, thực tập kỹ thuật ngày càng gia tăng.
Như vậy có thể thấy rằng việc áp dụng chế độ này ngày càng trở nên rộng rãi, tuy nhiên cũng còn nhiều vấn đề phát sinh không thể bỏ qua được.
Một số vấn đề phát sinh
Chế độ tu nghiệp, thực tập kỹ năng là hình thức tham gia hoạt động mang tính quốc tế với mục đích thông qua việc chuyển giao công nghệ để giúp ích cho các nước đang phát triển. Tuy nhiên, có công ty tiếp nhận tu nghiệp sinh, thực tập kỹ năng không hiểu rõ được điều này nên đã sử dụng tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng như nguồn lực lao động rẻ tiền và chính những việc này là nguyên nhân gây ra nhiều vấn đề phát sinh. Vấn đề tiếp nhận không đúng đắn như trên cũng đã xảy ra khi ban hành chính sách cũ vào năm 1999. Nhưng mấy năm gần đây, vấn đề này đã trở nên nổi cộm, trong đó có cả những vấn đề không thể bỏ qua được trong quá trình thực hiện chế độ này, ví dụ như xâm phạm nhân quyền tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng, dẫn tới phát sinh một số vấn đề nổi cộm như:
Gia tăng những công ty có hành vi bất chính
Kể từ khi Chính phủ Nhật Bản thu thập con số thống kê về việc này vào năm 2003 thì số công ty có “hành vi bất chính” là 92 công ty, năm 2006 tăng lên con số kỷ lục là 229 công ty. Trong số đó có 69 công ty bắt buộc tu nghiệp sinh làm ngoài giờ, 37 công ty đã vi phạm quy định của Luật lao động trong việc tuyển dụng thực tập kỹ năng.
Ngoài ra có công ty cũng đã có hành vi luồn lách chế độ tu nghiệp sinh, thực tập kỹ năng để có thể tiếp nhận tu nghiệp sinh, chẳng hạn như mượn danh nghĩa các nghiệp đoàn, núp bóng dưới các công ty hay thành lập những công ty ma chỉ có trên giấy tờ.
Phát sinh nhiều trường hợp bỏ trốn, lưu trú bất hợp pháp
Tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng phải tu nghiệp và thực tập tại công ty tiếp nhận, tuy nhiên cũng có trường hợp bỏ trốn khỏi công ty.
So với tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng bỏ trốn vào năm 1999 là 513 người, thì vào năm 2003 là 2.304 người, lần đầu tiên vượt qua con số 2.000 người và vào năm 2006 con số này đã tăng đến mức 2.201 người.
Trong số trường hợp bỏ trốn cũng có trường hợp visa đã hết hạn nhưng vấn tiếp tục lưu trú bất hợp pháp. Tính đến ngày 1 tháng 1 năm 2007 đã có 3.333 người vốn là tu nghiệp sinh, thực tập sinh ở lại lưu trú bất hợp pháp. Vào thời điểm ban hành phương châm cũ, số người lưu trú bất hợp pháp (vốn là tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng) là 3.315 người (tính đến thời điểm ngày 1 tháng 1 năm 1999), như vậy trong khi tổng số người lưu trú bất hợp pháp nói chung giảm thì số người lưu trú bất hợp pháp vốn là tu nghiệp sinh, thực tập sinh lại tăng từ 1,1% lên đến mức 2% so với số người lưu trú bất hợp pháp nói chung.
Dư luận xã hội về những hành vi bất chính đang tăng cao
Thực tế có những trường hợp công ty sử dụng tên khác làm visa để đưa những người muốn sang Nhật dưới tư cách tu nghiệp sinh để kiếm lời. Cũng có những công ty bắt tu nghiệp sinh làm ngoài giờ trên 100 tiếng/tháng. Bên cạnh đó cũng có những báo cáo liên quan đến tình trạng nhà ở của tu nghiệp sinh quá tệ hại, tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ thuật bị xâm phạm nhân quyền, như bị cưỡng chế giữ hộ chiếu. Ngoài ra trên báo chí cũng đăng tải những bài báo như tu nghiệp sinh giết nhân viên của công ty tiếp nhận, hay những câu chuyện đáng buồn khác…làm tăng cao dư luận xã hội đối với những hành vi lợi dụng chế độ này một cách bất hợp pháp.
Thái độ của Chính phủ Nhật Bản
Để đối phó với những vấn đề nêu trên Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra một số chính sách dưới đây:
Dựa vào ý kiến của các vị lãnh đạo các bộ ngành, Chính phủ đã thành lập “Nhóm chuyên phụ trách vấn đề người lao động nước ngoài” vào tháng 3 năm 2006 và cũng ngay trong năm đó, ngày 22 tháng 6 đã thành lập ra “bộ phận chuyên tập hợp ý kiến của công ty tiếp nhận người lao động nước ngoài”, có chức năng giải quyết những vấn đề phát sinh liên quan đến tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng, đặc biệt là hình thức quản lý tu nghiệp đoàn thể (tức là các đoàn thể như phòng công thương, hoặc đoàn thể các công ty vừa và nhỏ quản lý việc tiếp nhận tu nghiệp), nơi có những công ty tiếp nhận sử dụng tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng như lao động giản đơn, rẻ tiền, hoàn toàn khác với mục đích cơ bản của chế độ tu nghiệp; hoặc một bộ phận các đoàn thể tiếp nhận, công ty tiếp nhận thực tập vi phạm vấn đề nhân quyền, luật tiêu chuẩn lao động.
Ngày 22 tháng 6 năm 2007 Nội các Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra quyết định “Kế hoạch ba năm nhằm thay đổi đưa ra quy chế mới”; theo đó việc chuẩn bị những pháp lệnh liên quan đến chế độ tu nghiệp, thực tập kỹ năng, những hạng mục như “Phương pháp bảo hộ mang tính pháp lý trong suốt thời gian tu nghiệp”, “Tư cách lưu trú của thực tâp sinh kỹ năng”, “Xem xét lại những quy chế dựa vào những quy định ngoài pháp lệnh” thì chậm nhất là đến năm 2009 trong phiên họp thường niên của Quốc hội những đề án trên sẽ được đưa ra xem xét.
Ý nghĩa của việc sửa đổi chính sách
Năm 1999 Cục quản lý xuất nhập cảnh đã ban hành chính sách cũ để giúp thực hiện đúng đắn chế độ này. Dựa vào bản “Kế hoạch cơ bản việc quản lý xuất nhập cảnh lần 3” được ban hành vào tháng 3 năm 2005 để tăng cường điều tra các công ty tiếp nhận với mục đích là xem nội dung quan trọng chủ chốt của quy chế có được vận dụng đúng hay không.
Tuy nhiên những vấn đề phát sinh nêu trên vẫn tiếp tục tồn tại, do đó yêu cầu phải sửa đổi phương châm cũ để thực hiện đúng đắn chế độ hiện nay, làm sáng tỏ những vấn đề cần lưu ý của các tổ chức phái cử và tiếp nhận để thực hiện đúng đắn việc tu nghiệp và thực tập, đồng thời Cục quản lý xuất nhập cảnh cũng đưa ra những tiêu chuẩn để đánh giá những hành vi được xem là “hành vi bất chính”. Để quản lý tốt các đơn vị tiếp nhận phải nắm vững các nội dung sau:
Hiểu biết về chế độ tu nghiệp, thực tập kỹ năngt:
Chế độ tu nghiệp và chế độ thực tập kỹ năng là một chế độ thống nhất có mục đích giúp tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng được học kỹ thuật tại Nhật, cũng giống nhau ở chỗ là giúp đào tạo nguồn nhân lực cho các nước đang phát triển. Mặt khác hai chế độ này cũng có nội dung và tính chất khác nhau, vì vậy trong khi thực hiện cần phải nhận thức được những điểm giống, khác nhau của hai chế độ này.
Đặc thù của chế độ tu nghiệp
Tu nghiệp sinh cũng giống như lưu học sinh, là những người đến lưu trú tại Nhật với mục đích để học tập kỹ thuật chứ không phải là lao động.
Theo như quy định của chế độ này, tu nghiệp sinh cố gắng nắm bắt kỹ thuật một cách có hiệu quả, và thực hiện tu nghiệp tổng quát như học tiếng Nhật, học về an toàn vệ sinh lao động.
Đặc thù của chế độ thực tập sinh:
Nếu như chế độ “tu nghiệp” là chế độ dành cho tu nghiệp sinh đến Nhật để học tập kỹ thuật, thì chế độ “thực tập kỹ năng” là chế độ dành cho những người đã nắm được kỹ thuật cao hơn so với thời gian tu nghiệp, làm việc tại công ty tiếp nhận dưới dạng tuyển dụng lao động, vận dụng những kỹ thuật đã học được để làm việc tại xưởng sản xuất của các công ty tiếp nhận.
II. THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ TU NGHIỆP SINH MỘT CÁCH ĐÚNG ĐẮN
Tính phù hợp của tư cách lưu trú:
Tu nghiệp theo quy định của Luật quản lý nhập cảnh, là “những hoạt động nắm bắt trí thức hay kỹ thuật, kỹ năng của cơ quan, công ty công, tư tại Nhật Bản”. Trong trường hợp đáp ứng được những điều kiện nêu trên thì được gọi là có tư cách lưu trú phù hợp.
Theo quy định đó là “những hoạt động nắm bắt” thì điều quan trọng phải nhận thức rõ là tu nghiệp sinh là người học tập kỹ thuật, không khác gì với lưu học sinh. Từ việc nhận thức được điều này, các công ty cần nghiêm túc tuân thủ, không được buộc tu nghiệp sinh làm việc ngoài thời gian quy định và vào ngày nghỉ. Cũng có những đoàn thể, công ty có nhận thức sai hay không đầy đủ nên đã vi phạm quy định quan trọng của chế độ tu nghiệp. Kết quả là không được phép tiếp nhận tu nghiệp sinh. Cụ thể cần phải lưu ý những điểm cần thiết dưới đây:
Thiết lập quy chế tiếp nhận tu nghiệp sinh
Các công ty công hay tư có tiếp nhận tu nghiệp sinh phải thiết lập quy chế tiếp nhận tu nghiệp sinh thật tốt để giúp cho tu nghiệp sinh có thể nhanh chóng học hỏi nắm bắt được kỹ thuật, hay nói cách khác cần phải chuẩn bị quy chế tốt để có thể tiến hành chỉ đạo tu nghiệp sinh thực hiện việc tu nghiệp. Nói một cách cụ thể, để có thể thực hiện công việc tu nghiệp đúng đắn, liên tục và ổn định, công ty tiếp nhận phải đảm bảo có người hướng dẫn tu nghiệp, thiết bị và vấn đề về tài chính.
Liên quan đến vấn đề này, nếu một công ty mà ngoài nhân viên quản lý ra “nhân viên chính thức” chỉ là thực tập sinh kỹ năng thôi thì không được coi là đã có chế độ thực hiện tu nghiệp.
Bảo đảm nội dung tu nghiệp
Hoạt động tiếp nhận tu nghiệp là việc làm tốt đẹp và cần thiết, bởi những kỹ thuật mà tu nghiệp sinh được học phù hợp với mục điích chuyển giao công nghệ cho những nước đang phát triển. Trong trường hợp bản thân tu nghiệp sinh đã nắm vững kỹ thuật đó, hoặc những kỹ thuật được truyền đạt thấp hơn mức độ quy định thì được coi là không có tư cách lưu trú.
Về hoạt động tiếp nhận tu nghiệp, thì tiêu chuẩn cho phép nhập quốc được quy định trong “Nghị định quy định tiêu chuẩn”.
Trợ cấp tu nghiệp
Tư cách lưu trú “tu nghiệp”, nghĩa là đến Nhật không phải với mục đích lao động, vì thế tu nghiệp sinh cũng không được gọi là người lao động. Tu nghiệp sinh không có hoạt động để được nhận lương, và công ty tiếp nhận cũng không được trả lương cho tu nghiệp sinh. Do vậy, không được tiếp nhận, đối xử với tu nghiệp sinh giống như người lao động,
Tu nghiệp sinh sẽ được trả khoản trợ cấp cần thiết để đảm bảo cuộc sống tại Nhật chứ không phải tiền lương, vì thế việc tăng hay giảm khoản tiền trợ cấp tuỳ vào kết quả tu nghiệp là không được công nhận.
Tính phù hợp với tiêu chuẩn
Nội dung tu nghiệp được quy định trong Luật nhập cảnh - phần tư cách lưu trú, những tiêu chuẩn của việc tiếp nhận tu nghiệp được quy định chi tiết trong Nghị định tiêu chuẩn và những tiêu chuẩn phù hợp với những quy định này thì được gọi là “Tính phù hợp với tiêu chuẩn”.
Ngoài ra cũng cần phải lưu ý rằng nếu không thừa nhận 2 điều kiện nêu dưới đây thì bị coi là không phù hợp với Nghị định tiêu chuẩn và không được phép tiếp nhận tu nghiệp sinh.
Một là: Nghĩa vụ gia nhập bảo hiểm cho tu nghiệp sinh
Tu nghiệp sinh tu nghiệp tại công ty, trong lúc tu nghiệp có khả năng xảy ra tai nạn làm tu nghiệp sinh bị tử vong hay bị thương, do đó phải chuẩn bị các biện pháp bảo đảm an toàn phòng khi trường hợp này xảy ra.
Vì tu nghiệp sinh không phải là người lao dộng nên không thể áp dụng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động. Tuy nhiên, bề ngoài thì tu nghiệp sinh cũng tương đối giống như những nhân viên làm việc tại công ty tiếp nhận nên trong khi thao tác cũng có khả năng gặp phải tai nạn dẫn đến thương tật, tử vong, Vì thế phải lập ra tiêu chuẩn về các biện pháp bảo đảm an toàn trong trường hợp này.
Hai là: Không để tồn tại cơ quan trung gian có mục đích kinh doanh kiếm lời
Trong khi thực hiện chế độ tu nghiệp, nếu có công ty làm “môi giới”, thì để tránh việc “môi giới” với mục đích kiếm lời, Chính phủ Nhật Bản đã đặt ra tiêu chuẩn để ngăn chặn:
Chế độ tu nghiệp, thực tập kỹ năng có mục đích tham gia vào hoạt động mang tính quốc tế thông qua việc chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển, chứ không phải là chế độ tiếp nhận người lao động. Do đó không công nhận bất cứ cơ quan trung gian làm công việc môi giới giữa tu nghiệp sinh và cơ quan tiếp nhận để kiếm lời, tương tự như việc kinh doanh cung cấp người lao động chẳng hạn.
Cho dù là công ty tiếp nhận cấp I đi chăng nữa thì việc làm trung gian để trao đổi, thương thuyết nói chuyện, giữa công ty tiếp nhận cấp II và tu nghiệp sinh cũng là việc “môi giới” và nếu hành động môi giới này có mục đích là kinh doanh để kiếm lời thì việc này là vi phạm Nghị định tiêu chuẩn.
Chẳng hạn, nếu như công ty tiếp nhận cấp I khi giới thiệu tu nghiệp sinh cho một công ty thành viên của mình đã thu một mức phí cao hơn mức tiêu chuẩn thì có nghĩa là công ty tiếp nhận này đã nhằm mục đích kiếm lợi cho mình.
3. Các điểm lưu ý trong việc lưu trú - nhập quốc một cách đúng đẳn
Trong trường hợp thoả mãn được “Tính phù hợp của tư cách lưu trú” và “Tính phù hợp với tiêu chuẩn” như đã nêu trên, có thể bắt đầu được tiếp nhận tu nghiệp sinh. Nhưng sau khi tiếp nhận, các cơ quan phái cử, cơ quan tiếp nhận và tu nghiệp sinh vẫn cần hợp tác với nhau để tiến hành chương trình tu nghiệp cho thật thích hợp.
Trong Nghị định tiêu chuẩn cũng có những quy định mang tính ngoại lệ (dưới đây gọi là Thông tư về tu nghiệp) quy định này giúp dung hoà các điều khoản trong Nghị định tiêu chuẩn. Các phòng công thưong cũng như những đoàn thể công ty nhỏ và vừa quản lý tiếp nhận tu nghiệp sinh (tức hình thức quản lý tu nghiệp theo đoàn thể), sẽ được gọi là công ty tiếp nhận cấp I, dưới công ty tiếp nhận cấp I nơi tu nghiệp sinh trực tiếp tu nghiệp được gọi là công ty tiếp nhận cấp II, cơ quan làm công việc phái cử tu nghiệp sinh ở nước ngoài được gọi là cơ quan phái cử. Ngoài ra những công ty trực tiếp tiếp nhận tu nghiệp sinh (tức hình thức quản lý tu nghiệp độc lập) cũng xem như dạng công ty tiếp nhận cấp II.
Vai trò, nhiệm vụ chính của công ty tiếp nhận cấp I và công ty tiếp nhận cấp II được phân định như sau:
Công ty tiếp nhận cấp I
- Tổ chức đào tạo tiếng Nhật
Mục đích chính của hoạt động tu nghiệp là để tu nghiệp sinh có thể nắm bắt được kỹ thuật hiện đang sử dụng trong công ty tiếp nhận cấp II. tại những nơi tu nghiệp sinh đang tu nghiệp thì việc giao tiếp tiếng Nhật là tất yếu. Vì thế để có thể tu nghiệp một cách an toàn và có hiệu quả tại công ty tiếp nhận thì việc dạy tiếng Nhật là một điều hết sức cần thiết.
Ngoài ra, vì tu nghiệp sinh sống tại Nhật, do đó để thích nghi với cuộc sống, thì việc dạy tiếng Nhật để giao tiếp là không thể thiếu được nên cần đặt mục tiêu là ngay sau khi vào Nhật, các tu nghiệp sinh phải được học tiếng Nhật đạt đến trình độ nhất định để không gặp khó khăn trong cuộc sống hàng ngày và trong khi tu nghiệp.
Vì thế công ty tiếp nhận cấp I phải có một quy chế và chuẩn bị kế hoạch tu nghiệp một cách đầy đủ.
Công ty tiếp nhận cấp I cần chuẩn bị quy chế sao cho trong trường hợp hiếm hoi xảy ra tai nạn thì vẫn có thể đưa ra cách xử lý chính xác.
- Tuyển chọn tu nghiệp sinh đạt tiêu chuẩn
Để việc tu nghiệp tiến hành đúng, chính xác, cần xây dựng quy chế tiếp nhận tu nghiệp sinh đảm bảo những điểm trọng yếu như tuyển chọn nhân viên hướng dẫn tu nghiệp, công ty tiếp nhận trước hết phải nắm vững chế độ tu nghiệp, thực tập kỹ năng, lập kế hoạch tu nghiệp sao cho tu nghiệp sinh có thể nắm bắt được kỹ thuật một cách hiệu quả nhất.
Bên cạnh đó khi tiếp nhận, cần chọn những tu nghiệp sinh hiểu rõ chế độ tu nghiệp và có ý chí muốn tu nghiệp. Vì thế không thể nào phó thác toàn bộ việc tuyển chọn tu nghiệp sinh cho phía cơ quan phái cử, mà phải cùng với cơ quan phái cử thảo luận, trao đổi về các hạng mục như phương pháp tuyển chọn tu nghiệp sinh, điều kiện của tu nghiệp sinh và những giải thích cần thiết trước khi tu nghiệp. Còn đối với những người muốn đi tu nghiệp thì cần xác định xem những người đó có nắm vững và hiểu rõ về chế độ tu nghiệp, thực tập kỹ năng hay không rồi mới tiến hành tuyển chọn. Có như vậy thì mới có thể tuyển được những tu nghiệp sinh thực sự muốn tu nghiệp và như vậy việc tu nghiệp sẽ được tiến hành một cách hiệu quả hơn.
Những thông tin mà công ty tiếp nhận phải xác nhận rõ và cụ thể là giữa cơ quan phái cử và tu nghiệp sinh sẽ ràng buộc với nhau bằng loại hợp đồng nào, cách thức tuyển chọn tu nghiệp sinh của cơ quan phái cử, điều kiện dự tuyển tu nghiệp sinh, cách giải thích đúng đắn tiêu chí của việc tu nghiệp cho tu nghiệp sinh như thế nào.
- Loại bỏ lao động bất hợp pháp tại công ty tiếp nhận
Việc công ty tuyển dụng nhân viên là người nước ngoài lao động bất hợp pháp là vi phạm Luật nhập cảnh, đặc biệt là tại các công ty tiếp nhận tu nghiệp sinh thì việc loại bỏ lao động bất hợp pháp là điều rất cần thiết, Những công ty có nhận lao động bất hợp pháp, sử dụng nguồn lao động rẻ tiền là người nước ngoài bằng cách trả cho họ một mức lương cực kỳ thấp là vi phạm Luật lao động.Vì thế những công ty như vậy không được công nhận là công ty có đủ tư cách để giúp cho những tu nghiệp sinh đến Nhật Bản với mục đích “nắm bắt kỹ thuật, kỹ năng”.
Công ty tiếp nhận cấp I cần truyền đạt một cách triệt để nội dung nêu trên cho công ty tiếp nhận cấp II, và phải cho công ty tiếp nhận tu nghiệp sinh cấp II biết.
- Tổ chức đào tạo trước khi tu nghiệp
Việc đào tạo cho tu nghiệp sinh trước khi sang Nhật Bản là biện pháp giúp cho việc tu nghiệp tại Nhật Bản được thuận lợi và có hiệu quả. Để giảm bớt gánh nặng cho công ty tiếp nhận cấp II, công ty tiếp nhận cấp I, nên khuyến khích việc đào tạo trước khi đi tu nghiệp tại nước sở tại, hoặc bản thân công ty tiếp nhận cấp I đứng ra thực hiện công việc này.
Những hướng dẫn cách sinh hoạt, cách thức tu nghiệp, thời gian thực hiện việc đào tạo trước khi đi có thể khác nhau tuỳ theo kế hoạch tu nghiệp, tuy nhiên thời gian thực hiện trên vào khoảng trên một tháng.
- Chi trả trợ cấp tu nghiệp
Tiền trợ cấp tu nghiệp là số tiền cần thiết để chi phí cho cuộc sống của tu nghiệp sinh, vì vậy bên chi trả đã được ghi rõ trong hồ sơ nộp xin nhập cảnh, và xin tư cách lưu trú cho tu nghiệp sinh, phải trả trợ cấp tu nghiệp trực tiếp và rõ ràng cho tu nghiệp sinh.
Trong trường hợp chuyển khoản qua ngân hàng, nếu công ty tiếp nhận giữ sổ ngân hàng của tu nghiệp sinh thì có nghĩa là công ty đã quản lý trợ cấp tu nghiệp. Vì vậy dù tu nghiệp sinh có nguyện vọng nhờ giữ sổ tài khoản thì phía công ty cũng không nhất thiết phải giữ.
Ngoài ra không được phép lấy danh nghĩa “phí quản lý” để khấu trừ khoản trợ cấp của tu nghiệp, nếu làm như vậy thì hành động này bị xem là “hành vi bất chính”.
- Báo cáo những vấn đề nảy sinh, xử lý trường hợp bỏ trốn
Trong trường hợp phát sinh việc tu nghiệp sinh bỏ trốn, hay nghi ngờ bỏ trốn thì phải lập tức báo cáo cho Cục quản lý xuất nhập cảnh địa phương.
Tuỳ vào nội dung sự việc mà Cục quản lý xuất nhập cảnh sẽ đưa ra xử lý khác nhau, vì thế cần nhanh chóng báo cáo.
Trong trường hợp phát sinh việc tu nghiệp sinh bỏ trốn, cùng với việc lập tức báo cáo với Cục quản lý xuất nhập cảnh địa phương, phải hỏi những tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng khác ở cùng công ty hay những người trong gia đình tại nước sở tại để biết được địa chỉ (nơi làm việc) của tu nghiệp sinh, thực tập sinh bỏ trốn. Khi biết được địa chỉ phải lập tức gửi báo cáo việc bỏ trốn cho Cục quản lý xuất nhập cảnh địa phương và Cục quản lý xuất nhập cảnh tại nơi tu nghiệp sinh, thực tập sinh bỏ trốn đang ở.
- Theo dõi tình hình ứng dụng kỹ thuật học được trong thời gian tu nghiệp sau khi về nước
Công ty tiếp nhận cấp I cùng hợp tác với cơ quan phái cử tiến hành theo dõi việc tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng có vận dụng những kỹ thuật đã học được ở Nhật tại nước sở tại hay không. Theo Nghị định tiêu chuẩn thì việc tu nghiệp sinh sử dụng những kiến thức đã thu được tại Nhật là điều cần thiết, vì đây cũng là tiêu chí chính của chế độ tu nghiệp, thực tập kỹ năng, tức là việc chuyển giao kỹ thuật ra nước ngoài. Cụ thể là cần xác nhận xem tu nghiệp sinh sau khi về nước có làm công việc liên quan đến kỹ thuật học tại Nhật không.
- Thực hiện đúng chế độ kiểm tra báo cáo
Ít nhất 3 tháng/1lần công ty tiếp nhận tu nghiệp sinh cấp I phải đi đến các công ty tiếp nhận cấp II để kiểm tra. Kết quả phải báo cáo cho Cục quản lý xuất nhập cảnh địa phương. Riêng đối với công ty lần đầu tiếp nhận tu nghiệp sinh và những công ty sau 3 năm bị đình chỉ không được tiếp nhận tu nghiệp (do có hành vi bất chính) được tiếp nhận tu nghiệp sinh trở lại thì trong vòng 6 tháng đầu kể từ khi tiếp nhận tu nghiệp sinh, mỗi tháng một lần phải đến kiểm tra và báo cáo kết quả cho Cục quản lý xuất nhập cảnh địa phương.
Khi báo cáo kết quả kiểm tra, ngoài bản ghi chép kết quả kiểm tra, phải gửi kèm bản sao nhật ký tu nghiệp.
Vai trò của công ty tiếp nhận cấp II
Công ty tiếp nhận cấp II là nơi tu nghiệp sinh trực tiếp được học tập kỹ thuật. Vì thế công ty tiếp nhận cấp II đảm nhận nhiệm vụ xem xét kỹ nội dung tu nghiệp, quản lý cuộc sống của tu nghiệp sinh sao cho việc tu nghiệp được thực hiện một cách thuận lợi.
- Thực hiện tu nghiệp theo đúng kế hoạch tu nghiệp
Công ty tiếp nhận cấp II cần phải thực hiện tu nghiệp theo đúng kế hoạch. Thực hiện tu nghiệp theo đúng kế hoạch sẽ giúp tu nghiệp sinh có thể nắm bắt đầy đủ kỹ thuật, và cũng đạt được mục đích của chế độ tu nghiệp là “đào tạo nguồn nhân lực”.
- Tuyển chọn tu nghiệp sinh đạt tiêu chuẩn
Trước khi tiếp nhận tu nghiệp sinh, công ty tiếp nhận tu nghiệp sinh cấp II cần hợp tác với công ty tiếp nhận cấp I và các công ty phái cử để có thể tuyển chọn tu nghiệp sinh hiểu rõ chế độ tu nghiệp, ý thức đối với vấn đề tu nghiệp.
- Lựa chọn nhóm trưởng hỗ trợ cho việc quản lý
Chọn nhóm trưởng trong số các tu nghiệp sinh, nhóm trưởng là người trợ giúp cho nhân viên hướng dẫn tu nghiệp và nhân viên hướng dẫn sinh hoạt trong việc giao tiếp với các tu nghiệp sinh khác trong nhóm được dễ dàng, trôi chảy hơn. Khi lựa chọn nhóm trưởng, phải chọn người năng động, có năng lực, sức khoẻ, có nhân cách, ít có khả năng gây ra điều rắc rối.
Tuy nhiên cho dù chọn được trưởng nhóm đáp ứng đủ tiêu chuẩn nêu trên thì tầm quan trọng của nhân viên hướng dẫn tu nghiệp và nhân viên hướng dẫn sinh hoạt cũng vẫn có vai trò chủ yếu.
- Không được quản lý tu nghiệp sinh bằng cách thức bất hợp pháp
Công ty tiếp nhận cấp II cũng không được cấm tu nghiệp sinh đi ra ngoài ký túc xá, không được giữ hộ chiếu và thẻ ngoại kiều vì lý do phòng ngừa việc tu nghiệp sinh bỏ trốn. Việc cấm tu nghiệp sinh đi ra ngoài là vi phạm nhân quyền, ngoài ra theo quy định của pháp luật người nước ngoài khi đi ra ngoài luôn phải mang theo thẻ ngoại kiều và hộ chiếu,vì thế nếu công ty cầm giấy tờ trên thì sẽ bị xem là có hành vi vi phạm pháp luật.
Giả sử tu nghiệp sinh có nguyện vọng nhờ giữ hộ thì công ty tiếp nhận cũng không nhất thiết phải giữ.
Ngoài ra, trên thực tế nếu vi phạm này không bị coi là hành động phạm pháp thì cũng bị coi là đối tượng có “hành vi bất chính”.
- Chi trả trợ cấp tu nghiệp
Tiền trợ cấp tu nghiệp là số tiền cần thiết để chi phí cho cuộc sống của tu nghiệp sinh, người chi trả đã được ghi rõ trong hồ sơ nộp xin nhập quốc và tư cách lưu trú cho tu nghiệp sinh, phải trực tiếp trả trợ cấp tu nghiệp cho tu nghiệp sinh.
III. VAI TRÒ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN PHÁI CỬ
Nối về vai trò và trách nhiệm của cơ quan phái cử, trong tài liệu hướng dẫn không tách ra thành một phần hướng dẫn riêng. Tuy nhiên, để giúp các doanh nghiệp đưa tu nghiệp sinh sang Nhật Bản phối hợp tốt với đối tác, thực hiện tốt mục tỉêu đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá nước nhà, chúng tôi tách riêng trong mục này để doanh nghiệp cùng thực hiện
Tu nghiệp sinh là những người trực tiếp hưởng lợi từ chế độ tu nghiệp để sau khi về nước sẽ vận dụng những kỹ thuật đã được học để làm việc nên cơ quan phái cử cũng cần phải hợp tác để việc thực hiện tu nghiệp dược tiến hành một cách tốt đẹp.
Khi tuyển chọn tu nghiệp sinh, cơ quan phái cử phải nắm vững nhu cầu về nghề nghiệp tại các địa phương.
Cơ quan phái cử cùng hợp tác với cơ quan tiếp nhận thực hiện những hạng mục như tiến hành việc tuyển chọn, còn cơ quan tiếp nhận kiểm tra xem các hạng mục có được thực hiện đúng, chính xác hay không bao gồm:
- Tuyển chọn tu nghiệp sinh đạt tiêu chuẩn
Cơ quan phái cử cần phải hợp lực cùng công ty tiếp nhận trong việc tuyển chọn tu nghiệp sinh một cách đúng đắn. Cách tuyển chọn tu nghiệp sinh giống như đã nêu trong phần nói trên về công ty tiếp nhận tu nghiệp sinh cấp I
- Nhận thức rõ chế độ tu nghiệp, thực tập kỹ năng tại Nhật
Cũng giống như thực tập sinh, cơ quan phái cử cần nhận thức đúng, chính xác chế độ tu nghiệp, thực tập kỹ năng.
Không được tuyển chọn tu nghiệp sinh như là tuyển “người lao động” rồi đưa sang làm việc cho các công ty của Nhật mà phái hiểu mình đang tham gia vào chương trình tu nghiệp sinh, thực tập kỹ năng tại Nhật để giúp chuyển giao công nghệ.
- Thực hiện tốt công việc đào tạo trước khi đi tu nghiệp
Việc đào tạo trước khi đi tu nghiệp không phải là nghĩa vụ của cơ quan phái cử, tuy nhiên nếu tiến hành trước việc dạy tiếng Nhật, và hướng dẫn trước những nội dung tu nghiệp trước khi đi Nhật thì việc tu nghiệp sẽ diễn ra suôn sẻ, an toàn và có hiệu quả cao. Thời gian đào tạo trước khi sang Nhật có thể giúp giảm bớt thời gian cho việc tu nghiệp tổng quát bên Nhật, vì thế cần tích cực thực hiện.
- Mức thu tiền thế chân phải hợp lý
Mượn danh nghĩa là để phòng trường hợp bỏ trốn, cũng có những cơ quan phái cử thu tiền thế chân của tu nghiệp sinh, Trong số này có trường hợp thu khoản tiền thế chân lớn gây ra gánh nặng kinh tế cho tu nghiệp sinh, khiến cho họ phải làm việc ngoài giờ tu nghiệp và lao động một cách bất hợp pháp. Trong trường hợp này cơ quan tiếp nhận có thể từ bỏ việc tiếp nhận tu nghiệp sinh của cơ quan phái cử đó.
- Cơ quan phái cử phải theo dõi việc ứng dụng kỹ thuật học được sau thời gian tu nghiệp sinh về nước.
Cơ quan phái cử cần theo dõi việc tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng sau khi về nước có vận dụng những kỹ thuật đã học được ở Nhật tại nước sở tại hay không, đây là tiêu chí chính của chế độ tu nghiệp sinh thực tập sinh kỹ năng nhằm thực hiện việc chuyển giao kỹ thuật cho nước ngoài. Trong trường hợp công ty tiếp nhận nộp đơn lên Cục quản lý xuất nhập cảnh để xin được nhận tiếp tu nghiệp sinh mà buộc phải trình báo cáo tình hình tu nghiệp sinh sau khi về nước thì công ty phái cử cần xác nhận tình trạng này và nộp cho công ty tiếp nhận.
- Tuyên truyền, giáo dục cho tu nghiệp sinh
Phải giải thích cho tu nghiệp sinh hiểu rằng nếu bỏ trốn họ sẽ trở thành đối tượng bị trục xuất, và việc bỏ trốn là hành vi vi phạm sẽ bị xử phạt, và chính bản thân tu nghiệp sinh bỏ sẽ gặp phải bất lợi.
IV. CÁC HÀNH VI BẤT CHÍNH VÀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ
Việc thực hiện chính sách tiếp nhận tu nghiệp sinh và thực tập sinh kỹ năng của nước ngoài, tại một số nghiệp đoàn và cơ sở sản xuất cũng phát sinh các hiện tượng tiêu cực. Bộ Tư pháp Nhật Bản coi đó là những “hành vi bất chính” và phân thành những loại hành vi cụ thể gồm:
Loại 1 là các hành vi gian dối về hồ sơ, thủ tục tiếp nhận như: Sử dụng 02 bản hợp đồng, trong đó bản đệ trình xin phép tiếp nhận đảm bảo đúng quy định của Chính phủ, nhưng việc thực hiện lại căn cứ theo một hợp đồng khác nhằm tạo lợi thế cho nghiệp đoàn và công ty. Hoặc biểu hiện bằng việc thực hiện các kế hoạch tu nghiệp, thực tập kỹ năng, hay mượn danh nghĩa của công ty được phép tiếp nhận để tuyển tu nghiệp sinh, thực tập sinh cho đơn vị không được phép. Mức vi phạm cao hơn là soạn thảo, sử dụng những văn bản, biên bản giả mạo.
Loại 2 là lạm dụng thời gian làm việc ngoài giờ của tu nghiệp sinh, thực tập sinh.
Loại 3 là vi phạm nhân quyền của tu nghiệp sinh, thực tập sinh như bạo hành, giam lỏng, giữ hộ chiếu và thẻ ngoại kiều; bớt xén, không trả trợ cấp tu nghiệp, thực tập.
Loại 4 là vi phạm nghĩa vụ báo cáo, không kiểm tra, phát sinh nhiều trường hợp bỏ trốn.
Loại 5 là tuyển dụng lao động nước ngoài bất hợp pháp, vi phạm luật lao động, lợi dụng việc tiếp nhận tu nghiệp sinh để làm trung gian, môi giới kiếm lời.
Loại 6 là tái phạm các hành vi bất chính đã bị kiểm tra, phát hiện.
Về biện pháp xử lý:
Trong trường hợp bị nhận định là có “hành vi bất chính” (tức là không phù hợp với Nghị định tiêu chuẩn, Thông tư thực tập kỹ thuật), thì công ty đó sẽ không được phép tiếp nhận tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng trong vòng 3 năm.
Ngoài ra tại thời điểm đó, dù đã nhận được giấy chứng nhận tư cách lưu trú đi nữa, nhưng tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng có giấy chứng nhận đó chưa đến Nhật thì phải lập tức nộp trả lại giấy chứng nhận tư cách lưu trú cho Cục quản lý xuất nhập cảnh địa phương.
Việc cung ứng tu nghiệp sinh và thực tập sinh kỹ năng của Việt Nam đến Nhật Bản đang được mở rộng quy mô về ngành nghề và số lượng. Hiệp hội Xuất khẩu Lao động Việt Nam mong các doanh nghiệp cùng quán triệt nội dung văn bản này và coi đó là một phần nội dung giáo dục định hướng cho lao động đến Nhật Bản nhằm giáo dục ý thức tu nghiệp và thực tập kỹ năng cho người lao động, góp phần đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà./.